Nguyễn Huệ Chi  


 

                               

 PHỎNG VẤN

             GIÁO SƯ NGUYỄN HUỆ CHI

 

 

 


 

 

 

      Lời ngời phỏng vấn:  Tên tuổi ông gắn liền với bộ sách Thơ văn Lý-Trần khá nổi tiếng từ 40 năm nay, và đối với bạn đọc hải ngoại, ông đã có mặt trên tạp chí Hợp lưu từ 8 năm trước. Nhưng chúng ta chỉ thật sự được nghe nói đến nhiều về ông kể từ khi William Joiner Center thuộc Trường đại học UMASS quyết định mời ông và một người khác, ông Hoàng Ngọc Hiến, sang Hoa Kỳ tham gia vào một chương trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam ở hải ngoại. Dưới đây là một phần của cuộc nói chuyện khá dài nhân dịp ông Nguyễn Huệ Chi ghé qua San Jose trong tháng Chín 2001. Vì lý do tế nhị, đề tài cuộc nói chuyện được thỏa thuận trong giới hạn của những vấn đề văn hóa dù biết rằng sự cách biệt tuyệt đối giữa văn hóa và các vấn đề khác là điều không phải dễ. Trong trường hợp này, nếu phải đọc bài giữa hai hàng chữ là chuyện riêng của độc giả và ở ngoài ý muốn của người đặt câu hỏi và người trả lời câu hỏi dưới đây.

 

 

Hỏi : Nếu có người hỏi Nguyễn Huệ Chi ông là ai, anh sẽ trả lời ra sao ?

 

Đáp : Tôi trả lời theo hai cách. Cách đơn giản nhất : tôi là Nguyễn Huệ Chi, một công dân Việt Nam có mặt ở nước Mỹ từ cuối mùa xuân 2001 cho đến bây giờ. Còn trả lời kỹ càng hơn : tôi là sinh viên khóa đầu tiên của Trường đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1956-59, sau đó được học một lớp Đại học Hán học từ 1965, và thi bằng tốt nghiệp 4 năm, năm 1972. Từ tháng Giêng 1961, sau khi rời trường Tổng hợp một năm, tôi được chuyển về Viện Văn học. Đứng đầu Viện lúc bấy giờ là Giáo sư Đặng Thai Mai và nhà phê bình văn học Hoài Thanh. Cả hai ông đều gợi ý với tôi đi vào ngành văn học cổ và vì vậy tôi phải theo học lớp thứ hai là lớp Đại học Hán học. Kể từ đấy, ngành chính của tôi là văn học cổ và Hán Nôm. Tôi không còn tuổi trẻ nữa mà thấy mình cũ xưa như những miếu đền khiêm nhường của Thăng Long vẫn còn giữa lòng Hà Nội, hàng ngày phải “đối diện đàm tâm” với quá khứ của cha ông mình.

 

Hỏi : Thưa, anh sinh năm nào ?

 

Đáp : Tôi sinh ngày 14 tháng Bảy, năm 1938. Năm nay đã 63 tuổi rồi.

 

Hỏi : Anh làm việc và giữ chức vụ gì sau đó ?

 

Đáp : Vào năm 1968, tôi và anh Phong Lê, hai cán bộ trẻ của Viện, cùng tốt nghiệp một khóa, được bầu vào Hội đồng khoa học của Viện. Cũng năm đó, tôi được giao phụ trách Nhóm Thơ văn Lý-Trần, chuyên làm bộ sách Thơ văn Lý-Trần trong 40 năm qua. 1978, được đề cử làm Trưởng ban Ban văn học Cổ cận đại của Viện Văn học. 1984, được công nhận Phó giáo sư. 1991, được công nhận Giáo sư thực thụ. Từ đó đến nay, tôi vẫn là Trưởng ban Ban văn học Cổ cận đại kiêm Ủy viên Hội đồng khoa học Viện, trong đó có thời kỳ khoảng 7 năm  được bầu làm Chủ tịch của Hội đồng. Là Giáo sư, tôi cũng tham gia đào tạo Tiến sĩ cho Viện và các trường đại học ở ngoài Viện.

 

Hỏi : Anh có học chữ Nôm ? Việc học chữ Nôm của anh ra sao ?

 

Đáp : Người học chữ Hán bắt buộc phải học chữ Nôm. Chữ Nôm là bộ môn phải học trong khi học chữ Hán.

 

Hỏi : Công trình nghiên cứu của anh là những gì ?

 

Đáp : Cho đến nay tôi đã có vài chục đầu sách do tôi viết hoặc chủ biên. Cuốn sách công bố đầu tiên là cuốn tôi cộng tác với cụ Nguyễn Văn Huyến sưu tầm và dịch thuật tất cả các tài liệu về Nguyễn Trãi, in năm 1963, gọi là Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi, gần 350 trang. Tôi chịu trách nhiệm sưu tầm và sao chép những tài liệu có trong thư tịch mà lúc bấy giờ chưa mấy ai biết nhiều. Vì chữ Hán lúc ấy còn kém (tôi học Trung văn ở trường), tôi chép tài liệu rất vất vả và khổ công, nhưng tìm đọc tư liệu trong các thư viện thì không sót. Chép được bao nhiêu, tôi phân loại và đưa cho cụ Huyến dịch. Dựa trên bản dịch của cụ, tôi làm nhiều bảng đối chiếu, chú giải tỷ mỷ và xây dựng thành một hệ thống văn bản tin cậy. Vì thế, ngay sau khi in xong, cả trong và ngoài nước qua cuốn sách của tôi mới có được những tài liệu gốc để đi sâu vào Nguyễn Trãi.

 

Hỏi : Quyển Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi như thế nào ?

 

Đáp : Hầu hết những ý kiến bình luận về Nguyễn Trãi của những nhân vật tiêu biểu như Trần Khắc Kiệm (thế kỷ XV), Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), Phan Huy Chú, Nguyễn Năng Tĩnh, Ngô Thế Vinh, Dương Bá Cung (thế kỷ XIX)... đều được tập hợp vào đây. Hai bộ sử lớn có viết về Nguyễn Trãi là Đại Việt sử ký toàn thưViệt sử thông giám cương mục (lúc bấy giờ đều chưa dịch), bài tựa bản gia phả Nguyễn Trãi do Dương Bá Cung soạn 1822, những phần “Bình luận chư thuyết” và “Ức Trai sự trạng khảo” trong Ức Trai di tập... đều được tôi lục ra bằng hết, dịch, công bố, có những tài liệu được đặt trong quan hệ đối sánh nhằm đi đến một sự biện minh thực giả. Tôi làm rất công phu, có lẽ vì thế cuốn sách đã được chú ý. Trước đó một thời gian anh Hà Văn Tấn chú giải cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, anh Trần Quốc Vượng dịch cuốn Việt sử lược, đều là những cuốn sách có tiếng vang rộng rãi. Phương pháp làm việc của chúng tôi là bắt chước cách chú giải tỷ mỷ của các cụ như cụ Hoàng Xuân Hãn, cụ Đào Duy Anh và các cụ khác.

 

Hỏi : Anh có tham gia vào việc biên soạn Nguyễn Trãi toàn tập ?

 

Đáp : Nguyễn Trãi toàn tập là do Viện Sử học đứng ra tổ chức, người đứng đầu là Giáo sư Văn Tân. Cuốn ấy có sự tham gia chủ yếu của người dày kinh nghiệm khoa văn bản học là Giáo sư Đào Duy Anh, nhờ thế bộ sách có mặt mũi và đàng hoàng. Tất nhiên bây giờ tác phẩm của Nguyễn Trãi cần phải bổ sung, phải làm lại văn bản một cách cơ bản. Thơ nôm Nguyễn Trãi phiên âm sao cho thỏa đáng các trường hợp còn nghi vấn là cả một vấn đề. Nhiều bức thư trong Quân trung từ mệnh tập trùng nhau do hai ba nguồn tài liệu cùng chép, các cụ cứ thế dịch hết vào, nay phải khảo chứng để lọc bỏ và sắp xếp lại cho hệ thống, đúng trình tự thời gian của chúng, có thế mới thấy hết giá trị của tập thư. Đó chỉ là một vài ví dụ nhỏ thôi.

 

Hỏi : Bộ Thơ văn Lý-Trần bắt đầu từ bao giờ và hoàn tất được bao nhiêu tập rồi, thưa anh ?

 

Đáp : Bộ Thơ văn Lý-Trần do Viện Văn học chủ trương biên soạn ngay từ khi Viện mới thành lập (1959). Nay đã ra được 3 tập khổ lớn gấp bốn lần khổ sách bình thường, mỗi tập khoảng nghìn trang. Nhưng vẫn chưa xong. Một mảng văn học 5 thế kỷ của ông cha ta từ lâu rồi gần như trống. Từ thế kỷ X, Ngô Quyền dựng nước, cho đến hết thế kỷ XIV, tức đến năm 1406, người Minh đặt ách đô hộ trở lại. Thơ văn còn lại quá lác đác, không hệ thống, coi như một “khoảng thưa” của lịch sử văn học. Rất nhiều tên sách hiện còn mà sách thì đã mất. Rất nhiều văn bia có giá trị không được ai ghi lại. Học giả Lê Quý Đôn chỉ ghi tên các bia nhưng không chép lại văn bia. Viện giao việc này cho các cụ ở Tổ Hán Nôm đứng đầu là Giáo sư Cao Xuân Huy, người thực hiện là hai cụ Nguyễn Đức Vân và Đào Phương Bình. Các cụ chỉ dựa vào những cái ông cha còn để lại qua sách vở, cố nhiên những khoảng trống vẫn còn. Thế thì phải làm tiếp. Lúc đầu sách do nhà thơ Nam Trân, Tổ trưởng Tổ văn học Cổ cận đại mà tôi là một thành viên, chủ trì. Nhưng năm 1967, nhà thơ Nam Trân đang dạy lớp Đại học chữ Hán thì bị bạo bệnh và mất đột ngột. Một năm sau khi ông mất, năm 1968, tôi mới được trên giao cho kế thừa việc ấy. Gs. Đặng Thai Mai nói : bố tôi cụ Nguyễn Đổng Chi đã đi trước một bước rồi. Ông cụ đã soạn ra cuốn Việt Nam cổ văn học sử từ năm 1941, chuyên khảo cứu văn học từ đời Hồ trở về trước. Ông chỉ mới ra được một quyển đầu là quyển sử văn học. Quyển hai dự tính sẽ dịch đầy đủ thơ văn Lý-Trần. Nhưng ông lại phải tham gia cách mạng, cướp chính quyền nên không làm được nữa. Gs. Đặng Thai Mai nói tiếp : “Bây giờ anh nối tiếp ông cụ và đứng ra đảm đương việc này”. Từ đó tôi gạt bỏ việc nghiên cứu Tự lực văn đoàn và Nam Cao mà mình rất yêu thích để chuyên tâm vào công việc được giao. Nhóm thơ văn Lý-Trần do tôi phụ trách gồm một số anh chị em rất xuất sắc, như anh Đỗ Văn Hỷ (nay đã mất), các chị Băng Thanh và Tú Châu, đều là Phó giáo sư từ 1991. Nhóm chúng tôi đã lăn lộn từ 1968 cho đến nay. Chúng tôi đã bỏ cả tuổi trẻ của chúng tôi vào bộ sách ấy, chỉ mong lấp được một phần cái khoảng trống của lịch sử văn hóa của chúng ta.

 

Hỏi : Việc đi tìm tài liệu thế nào ?

 

Đáp : Quan trọng vẫn là nguồn tài liệu chứa trong thư tịch như các bộ Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển và một loạt thi tập còn lại đây đó. Ngoài ra là nguồn tài liệu điền dã : văn bia, văn khắc, sách vở tản mác trong dân... Nguồn này bắt chúng tôi phải tổ chức nhiều chuyến đi tìm kiếm khắp nơi, kể cả rừng sâu núi cao, những nơi “khỉ ho cò gáy”. Mỗi chuyến đi là một kỷ niệm nhớ đời. Đầu năm 1991 leo lên Ngọa Vân am - nơi người anh hùng Thượng hoàng Trần Nhân Tông, cũng là đệ nhất tổ Trúc lâm viên tịch - phải vượt hai dốc “Chạm hàm” (khi trèo lên cằm mình chạm vào con dốc dựng đứng trước mặt) và “Cổng trời” cao 1.000, mệt đến thở không ra hơi, lại phải vượt hơn tám con suối trong rừng sâu, bị ong độc đuổi chạy rơi cả kính, thế mà khi lên đến nơi thì mọi thứ bị đập phá gần như tan tành, tấm bia to lớn người ta cố công ghè ra quăng mỗi nơi một mảng, cây hoa đại cổ thụ hàng trăm năm tuổi bị phạt tận rễ nằm gục xuống thế mà vẫn trổ hoa, tháp Trần Nhân Tông và tháp Đoan Nghiêm (?) đứng song song, xây bằng gạch vồ cao sừng sững bị đào rỗng ruột, cứ lắc lư trước gió, tấm biển Phật hoàng tháp và bài vị trong tháp khắc rất công phu dưới thời Minh Mạng đều bị đập vỡ rơi vãi khắp trên mặt đất. Cả một nỗi đau trì nặng lên đôi chân của mỗi chúng tôi khi quay trở xuống vào sáng hôm sau.

 

Hỏi : Các anh chị không đi ra ngoài nước như Trung Quốc hay Nhật để tìm tài liệu ?

 

Đáp : Phải nói với anh là điều kiện kinh tế rất eo hẹp. Lúc bấy giờ lo bận vào cuộc chiến, cuộc chiến đó đã hút hết mọi tinh lực. Chúng tôi còn thảnh thơi để đi tìm thơ văn Lý-Trần đã là một hạnh phúc lớn rồi.

 

Hỏi : Khi chương trình còn tiếp tục theo đuổi cho đến nay, có kế hoạch nào để đi tìm nguồn tài liệu ở ngoài nước ?

 

Đáp : Tôi nghĩ rằng đây là một ý tưởng rất hay và quả thật cũng cần thiết, bởi vì chúng tôi là người đã tìm ra quyển Việt kiệu thư (Gò đất Việt) của Lý Văn Phượng viết vào thế kỷ XVI thời nhà Minh. Lý Văn Phượng là nhà sử học người Tàu, biết thu góp tư liệu một cách cẩn thận. Trong sách đó tôi tìm được ba đạo sắc của Minh Thành Tổ gửi cho viên Tổng binh Chu Năng (tổng chỉ huy đội quân xâm lược Việt Nam) nói về chính sách văn hóa của ông ta đối với Việt Nam mà Chu Năng là người phải thừa hành. Đạo sắc thứ nhất ban bố vào tháng Tư năm 1406, gồm 10 điều, trong đó có ghi cụ thể : các hạng người làm nghề thầy thuốc, thợ thủ công, ca nữ, thầy bói... người Việt, mỗi hạng phải bắt về Tàu bao nhiêu, và phải dò xem sự lợi hại của hỏa pháo của cha con họ Hồ (Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng) như thế nào. Hồ Nguyên Trừng là một nhà kỹ thuật giỏi, sau này bị bắt sang Tàu, được bổ dụng làm Tả thị lang Bộ Công, theo cách gọi ngày nay là Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, chứng tỏ họ cũng biết dùng người chứ không phải bạ ai cũng giết. Tôi quan tâm đến điểm thứ ba trong đạo sắc : “Phàm sau khi đến An Nam, bao nhiêu sách vở của người Nam viết, kể cả sách ca lý dân gian, sách ghi những câu vần vè cho trẻ em học, trừ những gì do Trung Quốc viết ra, tất cả đều phải đốt ngay tại chỗ, một mảnh một chữ chớ để sót. Bao nhiêu bia ký trong nước họ, trừ những bia do Trung Quốc dựng, đều phải đập ngay tại chỗ, một mảnh một chữ chớ để còn”. Những đạo sắc này chứng tỏ dã tâm của Minh Thành Tổ rất ghê gớm, bởi vì ông ta hiểu muốn tiêu diệt tận gốc một dân tộc thì không gì bằng tiêu diệt văn hóa của dân tộc đó. Gần một năm sau, một đạo sắc thứ hai lại được ban ra khi Minh đã thắng lớn : “Trẫm nghe, quân ta đi đến đâu vẫn không đập phá hết bia ký, không đốt hết sách vở như lệnh trẫm mà lại đem về doanh trại. Nay quân lính phần đông không biết chữ, nếu đem về doanh trại thì thế nào cũng tán lạc”. Và nhắc lại nguyên văn đạo sắc thứ nhất. Chứng tỏ vị Hoàng đế Thiên triều không đưa ra một chính sách tùy tiện mà suy nghĩ lớp lang, cặn kẽ và theo đuổi nó đến cùng. Đạo sắc thứ ba ra tháng 6-1407 : “Nay An Nam đã bình định xong, phàm tất cả mọi giấy tờ, thư thiếp, sắc chỉ do trẫm đã ban ra cần phải thu lại đầy đủ, kiểm kê đủ số và gửi về tận tay trẫm, không một thứ nào được để sót lại. Nếu có một thứ nào sót lại, rơi vào tay bọn ấy thì rất bất tiện”. Chữ “bất tiện” nói rõ tim đen của một kẻ muốn “ném đá giấu tay”. Thâm hiểm đến thế kể cũng là hy hữu ! Từ đấy, hễ kẻ nào đối đầu với văn hóa dân tộc tôi đều nhìn với con mắt nhìn Minh Thành Tổ. Là sản phẩm của những triều đại quá khứ, di sản văn hóa bao giờ cũng có những phần không còn thích hợp với hôm nay, nhưng đấy là những viên ngọc do cha ông để lại, dù có tỳ vết thì vẫn là ngọc. Đấy mới chính là lịch sử chân thực nhất, phải bảo lưu nguyên vẹn, chứ sao lại đang tâm phá đi ? Nực cười cho những ai nghĩ rằng chỉ mình mới là người chân chính dựng nên lịch sử và lịch sử chân chính chỉ bắt đầu từ thời đại của mình, hoặc giả chỉ mình mới là người đại biểu cho chân lý... rồi cứ thế tha hồ “nã đại bác” vào quá khứ, kể cả “nã” bằng bút như vài bài báo, cuốn sách tôi được đọc mới đây. Ngay cả nếu do một sự sơ suất nào đó mà để cho di sản văn hóa của nước nhà bị mất mát, bị tiêu hủy, đều cần phải tự xét mình nghiêm khắc. Tiếc thay chẳng có vị lãnh đạo quốc gia nào dám tự bạch một lời gọi là thật lòng áy náy cả. Năm 1999 tôi có dịp đi sang Trung Quốc và nhìn thấy tượng Minh Thành Tổ ở Thập tam lăng. Tượng bằng đồng, rất cao to, được khách tham quan trọng vọng lắm. Tôi nói với anh bạn Lý Tu Chương từng học tiếng Việt ở Việt Nam : “Nhân vật này đối với anh là thần tượng đấy, nhưng với tôi chẳng là cái gì cả. Anh ta sang xâm lăng nước tôi, đô hộ nước tôi, anh ta chỉ mới là kẻ thù của nước tôi thôi. Nhưng sang với chủ trương triệt phá văn hóa của chúng tôi, anh ta là tên diệt chủng”. Nhưng nhìn thấy trước mặt tượng lại có một cái âu để khách thập phương cúng tiền, tôi chợt nghĩ đến một hạng người nào đó vẫn thường gặp trên các đường phố ở Việt Nam và thế là tôi nháy mắt với Lý Tu Chương rồi ném cho ông ta một đồng nhân dân tệ.

 

Hỏi : Anh đã công bố những khám phá này chưa ?

 

Đáp : Tôi đã in, có cả bản chữ Hán, trong Thơ văn Lý-Trần tập I. Nhiều người sử dụng lại tư liệu của tôi. Sang đây tôi được Nguyễn Nam, hiện theo học Ph.D. ở Harvard, cho biết anh đã dựa vào sự phát hiện của tôi làm bài giảng cho sinh viên, họ rất ngạc nhiên.

 

Hỏi : Còn câu chuyện đạo văn của ông cụ anh là học giả Nguyễn Đổng Chi ?

 

Đáp : năm 1956 ông cụ tôi viết cuốn Lược khảo về thần thoại Việt Nam, sách bán rất chạy nên cũng trong năm ấy nhà Văn sử địa in lại. Một số cuốn lọt vào miền Nam, một học giả Sài Gòn là H.T.M. đã dựa hẳn vào đó để soạn thành cuốn Việt Nam văn học toàn thư. Năm 1958, trên tờ Văn hóa nguyệt san (Sài Gòn), một học giả khác (Đường Bá Bổn) viết một bài đối chiếu, chỉ rõ sự giống nhau y đúc giữa hai quyển, và coi đây là một vụ đạo văn trắng trợn. Sau đó còn có mấy ý kiến khác trên một vài tờ báo khác nữa. Tôi không biết ông H.T.M. có trả lời công luận hay không nhưng làm như vậy rõ ràng là không ổn. Cả hệ thống thần thoại của người Việt được bố tôi dựng lại theo 4 tầng : cõi trời; cõi trời và đất ở đó thiên thần kết hợp với nhân thần; cõi núi và biển ở đó nhân thần chinh phục thế giới và tạo nên nòi giống; cõi đất và nước ở đó các anh hùng thời khuyết sử bắt đầu chiêu dân lập quốc, với những tư liệu ông tìm tòi cả một đời, là phát hiện của riêng ông. Mượn lại nguyên xi cả hệ thống ấy và những tư liệu ấy thì cần xin phép, cần chú thích minh bạch mới là cách làm của người cầm bút tự trọng.

 

Hỏi : Trở lại với vấn đề gần đây nhất. Làm sao anh biết William Joiner Center cần người nghiên cứu ?

 

Đáp : Tôi cũng nghe người ta bảo với nhau. Năm 1994 tôi có viết bài Vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại đăng trên Tạp chí văn học của Viện. Bài đó được các học giả, nhà phê bình, nhà văn bên ngoài hưởng ứng, trao đổi nhiều kỳ trên đài RFI của Pháp. Đó là ý kiến của các anh Đặng Tiến, Tạ Trọng Hiệp và Trần Vũ, họ coi bài tôi là một kiến giải cởi mở, một cái nhìn mới mẻ và đầy thiện chí về cách nhìn giao lưu. Bên này tờ Hợp lưu của anh Khánh Trường đăng lại bài tôi cùng những ý kiến trao đổi cũng gây một tiếng vang và tờ Văn học của anh Nguyễn Mộng Giác cũng có trích đăng một phần. Vì thế, mối tương tri giữa tôi và nước ngoài dần dần được mở rộng. Một vài người thông tin cho tôi, tôi mới biết chương trình của William Joiner Center trong đó có phần văn hóa cổ của người Việt. Tôi đề xuất dự án nghiên cứu văn hóa Việt Nam cổ truyền qua các công trình của học giả Việt Nam hải ngoại, được họ chấp nhận. Tôi cho rằng cả trong nước lẫn hải ngoại đều đang nhìn về văn hóa cổ truyền của mình, đi tìm căn cước của mình. Cái đó có ích cho cả trong và ngoài. Tôi nghĩ đi tìm căn cước không phải người Việt ở ngoài mà người Việt trong nước phải coi là trách nhiệm lớn. Đừng để mình là Từ Thức về làng cũ nhưng không còn thấy làng mình nữa.

Hỏi : Đề tài nghiên cứu của anh tại William Joiner Center tên là gì ?

 

Đáp : Vài nét khái lược về văn hóa cổ truyền của người Việt qua cái nhìn của các tác giả Việt Nam hải ngoại.

 

Hỏi : Đây là đề tài anh làm việc từ bấy lâu nay ở William Joiner Center ?

 

Đáp : Vâng.

 

Hỏi : Chương trình này kéo dài bao lâu ?

 

Đáp : Chỉ kéo dài 6 tháng. Phạm vi cũng chỉ là một phần mà thôi, một cái nhìn khái lược chứ không thể đi sâu được. Tôi nghĩ rồi đây sẽ phải có những sự đóng góp nào đó kể cả về mặt tài chính để có thêm cái nhìn của người Việt ở nước ngoài và người Việt trong nước, để đi đến những cách nghĩ đồng thuận về nguồn gốc, nội lực, khả năng quy tụ dân tộc, cũng như hướng vươn tới của văn hóa chúng ta.

 

Hỏi : Nguồn tài liệu anh nghiên cứu ở đâu và gồm những loại gì ?

 

Đáp : Tôi làm việc chủ yếu ở thư viện Harvard Yenching Library. Những cuốn sách tôi đọc gồm nhiều loại. Có sách nói về lối sống, cách ứng xử văn hóa của cộng đồng người Việt bên này. Có sách duyệt lại các giá trị của văn hóa. Có những cuốn nghiên cứu về Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo. Có những cuốn tìm hiểu các tác giả tác phẩm lớn trong văn học cổ : Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương,  Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, nhất là  Truyện Kiều... Tác phẩm của Thích Nhất Hạnh, Kim Định... tôi đều có đọc.

 

Hỏi : Anh dự định sẽ viết bao nhiêu trang cho đề tài ?

 

Đáp : Khả năng cho phép chỉ khoảng 30 đến 40 trang thôi. Tôi đã nói đây chỉ là khái lược. Ngoài ra, tôi có đi tiếp xúc với nhiều người ở những nơi như Washington DC, New York, San Jose... Tôi cũng có đến thăm một số ngôi chùa, đền thờ tổ Hùng Vương, miếu thờ thánh mẫu, Nhà Thờ do người Việt làm Linh mục, một vài thư viện tư gia...

 

Hỏi : Một nhận xét ngắn gọn về văn hóa cổ truyền của cha ông, theo anh ?

 

Đáp : Đừng đòi hỏi phải nhìn thấy ở đó những nét riêng biệt quá đặc trưng. Dầu sao chúng ta cũng chỉ là vùng ngoại vi của một trung tâm văn hóa lớn từ rất lâu đời, mà đặc điểm của trung tâm này là luôn luôn tự nó sinh sôi nẩy nở bằng cách thu hút tinh hoa của ngoại vi vào trung tâm, rồi sau khi đã hóa thân thành cái của chính mình lại trở lại chiếu xạ ra ngoại vi, làm cho các nền văn hóa khác không tự nhận ra mình nữa. Chỉ nội một việc chúng ta vốn thuộc vùng Đông nam Á mà đến một lúc nào đấy - có thể là từ thế kỷ I sau CN - chuyển hẳn sang khu vực văn hóa Đông Á cũng đủ thấy sức mạnh của trung tâm kia là đáng sợ, đúng hơn, văn hóa của người Việt đã trải qua một cuộc “đảo lộn” và “nhào nặn” không tự nhiên mà có phần bị động. Tất nhiên văn hóa bản địa của chúng ta vẫn giữ được nhiều dáng nét, và người Việt vẫn là người Việt với ngôn ngữ Việt, lối sống việt mà không bị đồng hóa bên cạnh người Tàu, đó là phần đáng kể. Nhưng cũng cần nhớ trong phần đáng kể này lại có cả mặt hay và mặt dở. Chỉ nêu một ví dụ : hình như vì vận mệnh sống còn (luôn luôn bị xâm lăng đe dọa), người Việt có thể bỏ qua tất cả, có thể đổi thay chóng vánh những gì tưởng đã thành chuẩn mực, có thể xô bồ một chút cũng cảm thấy chẳng sao. Người Việt tiếp thu rất nhanh mọi cái hay của người nhưng không tiếp thu cái gì thật đến nơi đến chốn, không tin cái gì quá lâu và cũng chẳng bảo lưu cái gì quá lâu, trừ các thần tượng có công với nền độc lập của đất nước. Tôi nghĩ, đặc điểm chi phối tâm thức văn hóa Việt là sự dung hợp. Ý thức về quyền tự chủ lãnh thổ thì rất rõ, rất nhạy mà quyền tự chủ về tư tưởng, cao hơn là ý thức về cá nhân, về tự do dân chủ cho mỗi cá thể lại không cao. Người Việt có truyền thống dân chủ công xã, nhưng bên mặt tốt cũng để lại cái gánh nặng là “hòa cả làng”, là “cá đối bằng đầu”. Hơn nhau một tí là dễ sinh chuyện ngay.

 

Hỏi : Anh nghĩ gì về phản ứng của người Việt ở hải ngoại chống đối sự có mặt của anh Hoàng Ngọc Hiến và anh trong chương trình của WJC ?

 

Đáp : Theo tôi đấy không phải là phản ứng của mọi người Việt mà chỉ là một thiểu số. Người đứng đầu là ông Nguyễn Hữu Luyện, hình như từng học cao học ở Đại học UMASS. Tôi không biết rõ động cơ đích thực của ông Luyện trong việc phản đối này (vì ông ta kiện  từ vị Giáo sư hướng dẫn mình, rồi kiện sang ông Nguyễn Bá Chung và cuối cùng là kiện ông Kevin Bowen là Giám đốc William Joiner Center), nhưng nói rằng người trong nước không hiểu gì về đời sống người Việt hải ngoại thì không thể viết được, là không hợp lý. Khi có một chương trình như thế cần phải có cái nhìn từ nhiều phía, trong cũng như ngoài nước, mới soi rọi ra được một mẫu số chung. WJC muốn như thế nên đợt đầu đã tuyển hai người Mỹ và hai chúng tôi. Đợt hai sắp tới tôi nghe có 7 người : một người ở Canada, một người ở Pháp, còn 6 người ở Mỹ. Thế là WJC tương đối công bình chứ không có cái nhìn thiên vị. Thứ hai, theo tôi nghĩ, đâu phải cứ người nào ở trong nước sang đây cũng có cái nhìn méo mó về người Việt bên này. Những người đã nghe theo ông NHL chống chúng tôi, tôi không muốn nghĩ xấu về họ. Mỗi người có thể xuất phát từ những hoàn cảnh éo le nào đấy mà bày tỏ thái độ, chẳng hạn trong gia đình có người vượt biên chẳng may đi không đến, nỗi đau đó của họ tôi sao có thể thờ ơ. Khi ở xa nhìn nhau đôi khi ta tưởng có thể đánh nhau được đây nhưng đến gần thì sao. Thấy mặt mũi anh này có khi cũng có thể nói dăm ba câu. Nói dăm ba câu lại thấy có thể chơi nhau một tuần. Chơi nhau một tuần hóa ra có thể chơi lâu. Tôi nghĩ chỗ đó là mẫu số chung của người Việt. Chấp nhận sự khác nhau, trọng hòa hơn trọng đồng, nét đặc sắc của văn hóa Việt là ở đó.

 

Hỏi : Khi nhận lời làm việc cho WJC, anh có gặp khó khăn gì trong nước hay không ?

 

Đáp : Không. Không thấy một trở ngại nào. Về phía cơ quan chủ quản của tôi, chỉ sau 10 ngày tôi gửi đơn xin, ông Giám đốc đã ký giấy cho tôi.

 

Hỏi : Trong khi nghiên cứu, nhãn quan duy vật có ảnh hưởng đến cái nhìn vấn đề của anh hay không ?

 

Đáp : Tôi cho là một người nghiên cứu khoa học, nếu muốn công trình của mình đạt ít nhiều kết quả, không thể chỉ vận dụng một phương pháp mà đủ. Ai chỉ dùng một phương pháp và cực đoan cho rằng phương pháp của mình là duy nhất đúng thì người đó sẽ vấp phải khó khăn rất nhiều trong nghiên cứu. Tôi bao giờ cũng vận dụng nhiều phương pháp. Có cái tôi tiếp thu của các học giả nước ngoài, có cái tôi tiếp thu từ những người đi trước, các bậc thầy của tôi. Phương pháp uyển chuyển nhất chính là sự tổng hợp của nhiều phương pháp, trong đó tất nhiên có vai trò của phương pháp duy vật lịch sử.

 

Hỏi : Sau hai tháng nữa về nước, anh lại sẽ tiếp tục việc làm bỏ dở ?

 

Đáp : Tôi đang vật lộn với tập cuối cùng của bộ Thơ văn Lý-Trần. 40 năm rồi, bây giờ đến lúc phải kết thúc. Có hàng trăm chuyến điền dã mà nói thực, tìm cho được một vài tấm bia quý còn lại là chuyện mò kim đáy bể, nhưng chỉ cần gặp được một tấm cũng đủ sung sướng vô cùng. Thí dụ như tấm bia ở Quảng Xương, Thanh Hóa, nói về ông Lê Công Mạnh, một Hào trưởng sống dưới đời Trần. Khi Toa Đô đem quân từ Chiêm Thành ra để phối hợp với đạo quân của Thoát Hoan ở phía Bắc, vào khoảng tháng Ba năm 1285, chúng đi qua trấn Thanh Hoa, ông đã tự động tổ chức hương binh chặn đánh. Biết rằng trứng chọi đá mà vẫn cứ làm, thế mới là dũng cảm. Đó lại cũng là một nét nữa của văn hóa Việt Nam. Sau khi đánh đuổi được quân giặc, ông này được nhà Trần phong tước Hầu. Bia vẫn còn mặc dù mất hai mảnh. Năm 1974, đang dự họp về cuốn Lam Sơn thực lục ở Thanh Hóa, bỗng nghe có người báo, chúng tôi liền đi ngay. Mượn xe đạp đi ròng rã hai ba ngày, gặp đâu ăn đấy, gặp gì ngủ nấy. Tìm được đến nơi dựng bia ở giữa một vườn lạc (đậu phộng), càng đọc càng cảm động. Đang lúi húi đọc thì Bí thư Đảng ủy xã đến hỏi. Tôi vừa đọc vừa giải thích. Ông này nghe ngơ cả người, cuối cùng nói : “Ôi, thế mà chúng em định cho dân quân đập đi để lấy đất trồng lạc vì cái chỗ này chiếm nhiều đất quá. Cũng may bia cứng quá đập không nổi, chỉ sứt hai miếng”. Tôi mỉm cười nói : “700 năm rồi vùng này còn có một con người lừng lững chưa chìm xuống đất là ông Lê Công Mạnh. Nếu các anh đập nốt cả vùng này sẽ chìm đi hết”. Tôi cứ nói cứng như thế. Năm ngoái, khoảng tháng Chín, cơ quan tôi tổ chức đi Sầm Sơn. Đêm ở Sầm Sơn, các cụ tìm đến hỏi Gs. Nguyễn Huệ Chi. Các cụ muốn tôi về xem lại cái bia. Tôi náo nức mượn xe ông Viện trưởng đi ngay. Khi đến nơi thì hóa ra là bia ông Lê Công Mạnh năm 74 chúng tôi đã gặp. Khi các cụ biết là bia quý thì thì các cụ đã xin Bộ Văn hóa cấp tiền làm thành một nhà bia và một cái chùa bên cạnh để người ta đến tưởng niệm danh nhân đồng thời thờ Phật. Nhìn như thế tôi cảm thấy lạc quan về di sản văn hóa, mặc dù không phải không còn nhiều điều đáng để bận lòng. Có thể nói đây là mặt tích cực cụ thể của truyền thống dân chủ công xã trong đời sống nông thôn.

 

Hỏi : Nhưng bên cạnh mặt tích cực có mặt gì đáng phải lưu tâm không?

 

Đáp : Mấy năm gần đây, nhìn chung, người ta đã không còn phá hoại di tích theo cách “cổ điển” của người cộng sản vô thần nữa, nhưng tình hình có lẽ vẫn chưa khá hơn bao nhiêu, vì người dân thì nóng lòng muốn xây lại những đền chùa đã trót phá đi nhưng họ lại không biết xây như thế nào mới là giữ được nét cổ kính của di tích, còn cán bộ văn hóa thì kém thậm tệ. Bởi thế, bên cạnh một vài di tích hiếm hoi nào đó được bảo quản đúng quy cách, còn đa số người ta trùng tu hoặc xây dựng một cách rất cẩu thả và lòe loẹt, chữ Hán xấu như ma lem và sai be bét, kiểu cách kiến trúc thì lai căng nửa cổ nửa kim, cứ nhìn đến là ngượng chín cả người. Có những câu rất sáo rỗng như “Đức lưu quang” hay “Đức lưu phương” không hiểu vì sao ở đền miếu nào cũng làm biển để treo, có lẽ vì khó tìm được người đủ trình độ nghĩ ra những câu vừa điển nhã vừa thâm thúy như các cụ thời trước. Có cảm giác như vốn liếng kiến thức và tâm huyết của phần lớn những người đứng ra đảm nhiệm việc trùng tu đã cạn kiệt; họ chỉ cốt làm thế nào thỏa mãn được tâm lý thích tín ngưỡng của dân là xong, rồi đút một khoản thật lớn kinh phí vào túi mình. Cho nên cái việc gọi là bảo tồn văn hóa dân tộc của của cơ chế hôm nay, theo tôi không khéo lại là một sự phỉ báng vào văn hóa. Ấy thế mà thật buồn là không thấy ai lên tiếng gì cả. Người có hiểu biết nào có được hỏi đến đâu. Còn các vị lãnh đạo ở trên thì có đời nào đi xem di tích, tuy rằng nghe nói vị nào cũng bí mật đến các miếu thiêng để thắp hương khấn vái cầu cho mình thăng tiến.

 

Hỏi : Chúng ta vẫn tự hào có 4.000 năm văn hiến. Chữ quốc ngữ chỉ mới được sử dụng hơn trăm năm nay. Phần gia tài trước đó là chữ Hán chữ Nôm nay không mấy người biết đọc và hiểu. Làm thế nào để cho gia tài đó không mất đi ?

 

Đáp : Đây cũng là điều chúng tôi băn khoăn 40 năm nay. 40 năm nghiên cứu về thơ văn Lý-Trần, đồng thời cũng là một quá trình dài được chứng kiến, tiếp xúc với cách ứng xử cụ thể đối với di sản văn hóa của con người đương đại. Phần văn hóa vật thể tôi đã nói ở trên, còn phần văn hóa phi vật thể như sách vở, phong tục tập quán, niềm tin tôn giáo, tôi nghĩ cũng đã có những hiện tượng đáng tiếc - hết sức đáng tiếc và đau lòng nữa - xảy ra. Trong thời điểm mà văn hóa không phải là tất cả mà còn phải lao vào cuộc chiến, không ai dám nói là nếu tôi lên phụ trách thì đã không có thiếu sót này. Chúng tôi với tư cách người làm văn hóa thì bảo vệ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

 

Hỏi :  Việc làm của anh trong 40 năm qua cho chỉ riêng thơ văn Lý-Trần là công sức của đời người. Anh cũng biết đó không chỉ là chuyện của một đời mà còn phải là sự tiếp nối của nhiều đời khác trong tương lai. Anh nghĩ sao ?

 

Đáp : Ở Trường đại học Quốc gia bây giờ đã có bộ môn Hán Nôm, hàng năm đào tạo hàng mấy chục cử nhân trẻ có trình độ Hán học. Về phần tôi, từ 78 tôi bắt đầu nghĩ đến thế hệ tương lai cho ngành văn học cổ. Khoảng 81-82 tôi đã được phép Viện tuyển chọn 3 chị và 4 anh tốt nghiệp đại học ngữ văn, có khả năng làm việc. Đến năm 85, tôi, anh Đỗ Văn Hỷ, các chị Băng Thanh, Tú Châu tổ chức lớp đại học Hán Nôm (khóa hai) của Viện, trong đó có khoảng 15 tăng ni trẻ tuổi cũng xin tham dự, đào tạo họ được 3 năm rưỡi. Tôi còn mời thêm một số Giáo sư bên ngoài dạy cho lớp học này. Năm 88 thì họ được cấp bằng đại học về Hán học. Không thể nói tất cả trong số ấy đều vững vàng nhưng ít nhất cũng có hai, ba người có thể kế tiếp chúng tôi. Tôi định mở thêm lớp cao học để lớp này tiếp tục nữa, nhưng có thể như thế là quá ảo tưởng về sức khỏe của mình. Bây giờ, sau khi Thơ văn Lý-Trần đã ra mắt đầy đủ 4 tập trong năm tới, tôi còn phải tính đến việc xin tài trợ đâu đó để làm lại bộ sách một cách hoàn chỉnh hơn. 5.000 trang khổ lớn, cả một gánh nặng còn đè lên những ngày còn lại của chúng tôi. Ấy thế mà tôi vừa mới được tin cấp báo từ trong nước gửi sang : có người dựa được vào uy thế ông này ông nọ, đã nhân danh một tổ chức “chính thống” được cấp trên tin cậy xin được đến hàng tỷ đồng của nhà nước để bắt đầu “làm lại” bộ sách của chúng tôi rồi. Ở Việt Nam tình trạng cướp khống bản quyền của người khác vẫn diễn ra đàng hoàng, công khai như vậy mà chẳng biết kêu ai cả. Nếu đến nước này thì có lẽ chúng tôi cũng đành... cười trừ mà “quy khứ lai hề” như Đào Tiềm thôi.

 

Xin cám ơn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi về buổi nói chuyện lý thú của anh.

 

 

Thượng Văn thực hiện

 

© Copyright Nguyễn Huệ Chi